Zing News - Tri thức trực tuyến

Một thiếu nữ 26 tuổi người Mỹ bị biến dạng khuôn mặt khủng khiếp do ung thư da

Một phụ nữ trẻ 26 tuổi người Mỹ, đã phải chịu hậu quả khủng khiếp của căn bệnh ung thư da.

Phụ nữ bị biến dạng khuôn mặt khủng khiếp do ung thư da, là Jade Thrasher (26 tuổi) sống ở Mỹ. Cô bị ung thư da do tắm nắng quá nhiều.
Thieu nu bi bien dang khuon mat khung khiep do ung thu da
 
Theo lời kể của Jade,  từ năm 13 tuổi do trào lưu phải có một làn da rám nắng giống các bạn mà Jade đã đi tắm nắng 3 lần một tuần, mỗi lần dài 20 phút trong suốt 11 năm liền. Thậm chí có thời điểm cô còn tăng lịch tắm nắng lên 6-7 lần/ tuần.
Jade Thrasher không hề ý thức được tác hại của việc làm này, cho tới năm 2014. Lúc này, trên mũi phải cô bắt đầu mọc ra một cái mụn bất thường. Nó cứ liên tục vỡ ra và không thể lành lại. Khi đi kiểm tra tại bệnh viện và tiến hành các xét nghiệm Jade đã rất sốc và kinh hãi khi được chẩn đoán là đã mắc bệnh ung thư da từ 5 năm trước đây.
Thieu nu bi bien dang khuon mat khung khiep do ung thu da-Hinh-2
 
Ngay sau khi phát hiện ra bệnh ung thư da, các bác sĩ đã phải tiến hành phẫu thuật cắt bỏ phần một phần trên mũi, xung quanh cái mụn của cô. Sau đó, các Jade tiếp tục được ghép da lấy từ ngực vào vùng mũi để che vết thương. Sau đó cô tiếp tục được phẫu thuật xóa sẹo.
Hiện tại sức khỏe của Jade đã ổn định trở lại. Tuy nhiên, cô vẫn tới kiểm tra định kỳ 3 tháng một lần để chắc chắn rằng khối u của cô có di căn hay không.
Theo kienthuc.net


Ngoạn mục ca bóc khối u buồng trứng "khủng" 40kg

Sau gần 10 năm phát triển trong bụng người phụ nữ, khối u buồng trứng khiến bụng bệnh nhân chướng căng. Bệnh viện Ung Bướu, TPHCM đã bóc thành công khối u khổng lồ nặng tới 40kg giải thoát cho người phụ nữ.

Ngày 18/10, BS.CK II Lê Hoàng Minh, Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TPHCM cho biết, tại đây vừa thực hiện thành công cuộc phẫu thuật bóc khối u buồng trứng lớn nhất từ trước đến nay.
Khối u khổng lồ khiến bụng bệnh nhân chướng căng (ảnh: bệnh viện cung cấp)
Khối u khổng lồ khiến bụng bệnh nhân chướng căng (ảnh: bệnh viện cung cấp)
Theo điều tra bệnh sử ghi nhận, gần 10 năm trước bà Phạm Thị Tuyết M. (49 tuổi, ngụ tại Cần Giuộc, Long An) phát hiện bị khối u buồng trứng. Tuy nhiên, do gia cảnh quá khó khăn, bệnh nhân không đủ điều kiện chữa trị, can thiệp sớm. Theo thời gian, khối u không ngừng phát triển khiến bụng bệnh nhân chướng lớn, chèn ép các bộ phận nội tạng.
Bà M. luôn gặp phải tình trạng khó thở, cơ thể chỉ còn da bọc xương nhưng hai chân phù lớn không thể đi lại được. Trong cảnh khốn cùng, người phụ nữ bất hạnh đã được bệnh viện Ung Bướu tiếp nhận tìm giải pháp can thiệp và tài trợ toàn bộ chi phí cho cuộc mổ.
Qua các kết quả kiểm tra, chẩn đoán hình ảnh, bác sĩ xác định khối u khổng lồ có kích thước rất lớn (60x80x100cm). Cân nặng cơ thể bệnh nhân khi vào viện là 90kg nhưng trọng lượng khối u đã chiếm tới 40kg.
Trong cuộc mổ kéo dài nhiều giờ với sự góp mặt của các chuyên khoa: hô hấp, tim mạch, huyết học, gây mê hồi sức, ngoại II và ngoại I, bác sĩ đã phải chọc khối u hút ra ngoài 18 lít dịch, đồng thời mở ổ bụng tiếp cận, khối u.
Sau nhiều giờ phẫu thuật, khối u nặng 40kg đã được hút dịch, bóc thành công (ảnh: bệnh viện cung cấp)
Sau nhiều giờ phẫu thuật, khối u nặng 40kg đã được hút dịch, bóc thành công (ảnh: bệnh viện cung cấp)
Khi mổ thám sát, ê kíp phẫu thuật phát hiện khối u đã dính vào thành bụng trước, chèn ép các bộ phận nội tạng. Các bác sĩ đã chọc hút lần thứ 2, đưa ra ngoài thêm 17 lít dịch, đồng thời tiến hành cắt tử cung, bóc toàn bộ khối u. Suốt thời gian mổ, bác sĩ đã phải truyền cho bệnh nhân 3 lít chế phẩm máu. Qua kiểm tra cho thấy, khối lượng vỏ và phần mô đặc của khối u nặng 2kg.
Chẩn đoán sau mổ xác định đây là dạng ung thư buồng trứng (FIGO III B).
Sau phẫu thuật, bệnh nhân đang được hồi sức tích cực tại khoa Ngoại I. Dự kiến khoảng 1 tuần tới, khi sức khỏe đã bình phục, bệnh nhân sẽ bước vào quá trình xạ trị. BS Hoàng Minh chia sẻ: Ê kíp phẫu thuật đã làm chủ được chuyên môn, giúp bệnh nhân thoát khỏi các tình huống xấu do rối loạn huyết động học khi bóc khối u nặng gần nằng nửa cơ thể ra ngoài.
Theo dân trí

Trong một gia đình có 9 người nhập viện do ngộ độc thực phẩm

Chiều 27/9, Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình đã tiếp nhận 9 bệnh nhân nhập viện cấp cứu do ngộ độc thực phẩm.

Bệnh nhân đang được điều trị tích cực tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình. (Ảnh: Đức Phương/TTXVN)
Bệnh nhân đang được điều trị tích cực tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình. (Ảnh: Đức Phương/TTXVN)
Đến thời điểm 18 giờ cùng ngày, tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình có 3 trường hợp ngộ độc nặng, 4 trường hợp nhẹ hơn và 2 trường hợp ngộ độc nhẹ nhất có thể tự chăm sóc cho mình.
Theo thông tin ban đầu từ Chi cục Vệ sinh An toàn thực phẩm, Sở Y tế Ninh Bình, các bệnh nhân nhập viện từ 14 giờ chiều 27/9, đều là con, cháu trong gia đình bà Trần Thị Cường, 73 tuổi, thôn Lý Nhân, xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
Đa phần các bệnh nhân nhâp viện trong tình trạng đau đầu, khô cổ, tê chân tay, hoa mắt, chóng mặt, có dấu hiệu của ngộ độc thần kinh.
Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình đã huy động tối đa cán bộ, bác sỹ, phương tiện cứu chữa bệnh nhân. Tối cùng ngày, 3 trường hợp bệnh nhân nặng nhất đang phải điều trị tích cực bằng các loại máy móc.
Ngay sau khi vụ việc xảy ra, ông Vũ Mạnh Dương, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Ninh Bình đã có mặt tại Khoa Cấp cứu nắm tình hình, trực tiếp chỉ đạo công tác điều trị, cứu chữa bệnh nhân.
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình đã huy động sự hợp tác từ Khoa Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai-Hà Nội, mời bác sỹ về phối hợp với Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình để đưa ra hướng điều trị tốt nhất cho các bệnh nhân.
Bà Nguyễn Thị Hường, Chi cục Trưởng Chi cục Vệ sinh An toàn thực phẩm Ninh Bình cho biết, các bệnh nhân nhập viện đều ăn bữa trưa lúc 12 giờ tại gia đình bà Trần Thị Cường, thức ăn gồm có thịt vịt quay, canh rau ngót, chả thịt lợn, thịt cầy, trứng rán..
Đáng lưu ý, gia đình đã mua thịt vịt tươi sống tại chợ và nhờ một cửa hàng khác ướp gia vị và quay vịt. Hiện vẫn chưa có kết luận về nguyên nhân của vụ ngộ độc thực phẩm này.
Chi cục đã lấy mẫu dịch rửa dạ dày của bệnh nhân, thức ăn thừa từ bữa ăn, gia vị ướp thịt để gửi Viện Kiểm nghiệm An toàn Vệ sinh Thực phẩm quốc gia xét nghiệm nhằm đưa ra kết luận về vụ ngộ độc thực phẩm./.
Theo dantri.vn

Nhiều người Việt Nam đang bị ung thư do nhiễm chất amiang.

Đó là ý kiến của các nhà khoa học khi nói về tác hại của amiang đối với sức khỏe con người tại một hội thảo mới đây do Cục Quản lý môi trường (Bộ Y tế) phối hợp với Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam tổ chức.
Theo đó, tại Hội thảo về: “Sự tham gia của các tổ chức xã hội đóng góp cho kế hoạch hành động Quốc gia loại trừ các bệnh liên quan đến Amiang”, các nhà khoa học cho biết: “Có nhiều ý kiến cho rằng, bột amiang vỡ ra từ các tấm lớn, tán nhỏ rồi đưa ra đồng ruộng sẽ rất tốt cho cây trồng.
Tuy nhiên, họ không thể biết rằng khi đó chính những người nông dân lại bị ảnh hưởng như những người công nhân trong nhà máy, họ hít phải chất độc này từ năm này sang năm khác và dần dần sẽ mắc phải những căn bệnh ung thư nguy hiểm”.
Cũng tại buổi Hội thảo này, các nhà khoa học lên tiếng về việc loại bỏ amiang ra khỏi cuộc sống người dân. Đặc biệt là việc sử dụng tấm lợp pro xi măng tại các gia đình. Đặc biệt là những vùng nông thôn.
“Hiện nay, ngay cả những chương trình như 135 của Chính phủ hay các chương trình hỗ trợ của các tổ chức Phi chính phủ đang tài chợ miễn phí tấm lợp pro xi măng cho người dân ở những vùng nghèo khó, việc làm này cần phải dừng lại ngay vì “nó” đang “tiếp tay” cho sự bùng phát các căn bệnh nguy hiểm như ung thư đối với những người dân nghèo.
Chúng ta không thể nói vì người nghèo mà duy trì tấm lớp pro ximăng bởi WHO đã có các nghiên cứu chỉ ra rằng amiang là “sát thủ” của sức khỏe con người, đặc biệt là gây ra bệnh ung thư”, TS Trần Tuấn - Trưởng Ban thường trực hành động Liên minh vận động chính sách y tế nhấn mạnh .
Theo TS Tuấn, những người bị phơi nhiễm amiang nhiều nhất là công nhân làm ở các nhà máy tấm lợp, người sử dụng tấm lợp pro xi măng, amiang từ tấm lớp pro xi măng thải ra môi trường…
Nhiều người Việt Nam đang nhiễm chất amiang gây ung thư - 1
TS Trần Tuấn cho rằng, cần loại bỏ càng sớm càng tốt các sản phẩm có chứa amiang.
“WHO đã chỉ ra rằng amiăng gây ung thư cho phổi, thanh quản và buồng trứng, ung thư trung biểu mô (một loại ung thư màng phổi và màng bụng) và bụi phổi amiang (xơ hóa phổi). Các bệnh liên quan đến amiang có thể phòng ngừa được, và cách hiệu quả nhất để phòng ngừa các bệnh này là ngừng sử dụng tất cả các dạng của amiang để phòng ngừa phơi nhiễm”, TS Tuấn khuyến cáo.
Trước những ý kiến về tác hại của amiang, nhất là với những vùng nông thôn được hỗ trợ tấm lợp pro xi măng theo các chương trình của nhà nước và tổ chức phi chính phủ, ông Hoàng Xuân Lương, Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc của Chính phủ cho rằng, chúng ta cần phải tin tưởng vào những khuyến cáo của WHO về tác tại của amiang đến sức khỏe con người. Bởi WHO là tổ chức có tiềm lực nhất về đội ngũ chuyên gia cũng như cơ sở vật chất trong lĩnh vực y tế.
Đồng thời, ông Lương cũng khẳng định sẽ có những khuyến cáo đối với việc sử dụng ngân sách nhà nước để mua các sản phẩm (mà chủ yếu là tấm lợp) có amiang để hỗ trợ cho người dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào khó khăn; chỉ đạo các cơ quan báo chí của Ủy ban Dân tộc truyền thông về tác hại của amiang đến đồng bào dân tộc.
Ngoài ra ông Lương cũng kiến nghị: “Những tác hại của amiang đã được WHO là không thể phủ nhận, nguy hiểm hơn là nhiều nơi đồng bào còn hứng nước mưa từ những mái pro xi măng này để dùng trong sinh hoạt. Bởi vậy, việc nghiên cứu những tác hại của amiang cả về đường tiêu hóa, nội tiết là điều cần phải triển khai ngay”.
125 người bị phơi nhiễm amiang
Theo thống kê, năm 2008, có 7,6 triệu tử vong do ung thư cùng với 12,7 triệu ca nhiễm mới. Có khoảng 19% tất cả các ca ung thư được ước tính là có liên quan đến môi trường, kể cả nơi làm việc.
Theo đó, khoảng 125 triệu người trên thế giới bị phơi nhiễm với amiăng tại nơi làm việc. Theo ước tính của WHO, ít nhất 107 000 người chết hàng năm do ung thư phổi liên quan đến việc sử dụng hoặc đã được sử dụng là hỗn hợp sợi, kết dính với các nguyên vật liệu khác như: xi măng, chất dẻo và nhựa hoặc dệt thành vải may mặc.
Hiện nay, cả thế giới đã vào cuộc với amiang. Tại Mỹ dù amiăng chưa được cấm nhưng tiêu thụ đã giảm từ 668 000 tấn năm 1970 xuống 359 000 tấn năm 1980, 32 tấn năm 1990, 1.1 tấn năm 2000 và 1.0 tấn năm 2010.
Liên minh châu Âu đã cấm sử dụng amiang. Ở Nhật, tiêu thụ amiăng là khoảng 320 000 tấn năm 1988 và giảm liên tục theo năm xuống dưới 5000 tấn năm 2005; sử dụng amiăng bị cấm năm 2012. Ở Singapore, việc nhập khẩu amiăng thô đã giảm từ 243 tấn năm 1997 xuống 0 tấn năm 2001. Tại Philippines, việc nhập khẩu amiăng thô là khoảng 570 tấn năm 1996 và 450 tấn năm 2000.
Theo Khám phá/eva.vn

Bệnh viêm mũi. Bệnh nhẹ, biến chứng nặng

Viêm mũi là tình trạng viêm niêm mạc hoặc tổ chức dưới niêm mạc của mũi. Biểu hiện là sung huyết hoặc phù nề...

Biểu hiện là sung huyết hoặc phù nề, người bệnh thường cảm thấy ngạt mũi, chảy dịch mũi trong, ngứa mũi, họng khó chịu, ho. Mọi người cho rằng nhức đầu sổ mũi là chuyện vặt, tuy nhiên nếu không điều trị đúng thì biến chứng viêm mũi xoang không hề nhẹ.
Các loại viêm mũi
Viêm mũi dị ứng: Trong các loại viêm mũi, loại hay gặp nhất là viêm mũi dị ứng. Viêm mũi dị ứng có 2 thể: thể có chu kỳ và thể không có chu kỳ. Thể có chu kỳ xảy ra một cách đột ngột về đầu mùa lạnh hoặc đầu mùa nóng. Người bệnh thấy buồn buồn (nhột), cay cay trong mũi, hắt hơi từng tràng; đồng thời thấy cay mắt, đỏ mắt và chảy nước mắt. Sau đó nước mũi chảy đầm đìa. Nước mũi trong như nước lã. Người bệnh thấy nặng đầu, tay chân uể oải, sợ ánh sáng; có người bị đau trán, nhức đầu... Những cơn như vậy thường xảy ra vào buổi sáng sớm. Tình trạng này kéo dài trong vài ngày, có khi hằng tuần rồi tự biến mất. Mỗi năm vào đúng thời kỳ đó lại tái diễn bệnh. Thể không có chu kỳ cũng có dấu hiệu tương tự, nhưng xảy ra bất kỳ ở thời tiết nào.


Phân biệt giữa viêm mũi và cảm cúm
Viêm mũi cấp tính: Là do nhiễm vi khuẩn hoặc do virut gây ra, giai đoạn đầu do các mao mạch của tế bào mũi sung huyết, tăng xuất tiết, chảy dịch trong, sau vài ngày, dịch rỉ lắng đọng trên bề mặt niêm mạc, hình thành dịch mũi đặc.
Viêm mũi mạn tính: Do viêm mũi cấp tính điều trị không dứt điểm hoặc trị lâu ngày không khỏi. Biểu hiện sưng niêm mạc, tăng xuất tiết, dịch đặc màu vàng hoặc màu trắng, thời gian kéo dài, thường bị ngạt mũi hoặc đau đầu và nặng hơn sau mỗi lần cảm cúm.
Viêm mũi do mũi khô: Biểu hiện niêm mạc mũi khô, người bệnh thường không chảy mũi nhưng do khoang mũi khô ngứa, người bệnh thường ngoáy mũi, nên gây tổn thương niêm mạc dẫn đến chảy máu mũi.
Viêm mũi do khô teo: Đây là một loại bệnh về mũi phát triển rất chậm, thường bệnh này có liên quan tới chứng rối loạn nội tiết, dinh dưỡng không đầy đủ, yếu tố di truyền hoặc khi mắc phải viêm mũi mạn tính. Các tuyến trong khoang mũi bị teo, dịch mũi có mủ xanh, mùi hôi...
Từ một viêm mũi nhẹ có thể gây biến chứng nặng nề
Bệnh viêm mũi nếu không được chữa trị, hoặc chữa trị không đúng cách sẽ có nhiều biến chứng và ảnh hưởng chức năng sinh lý của mũi. Sẽ xuất hiện tình trạng hô hấp khó khăn, làm giảm lượng ôxy hít vào. Ảnh hưởng chức năng và sự chuyển hóa của các bộ phận khác xung quanh mà xuất hiện một số tình trạng như đau đầu, chóng mặt, suy giảm trí nhớ, đau ngực, bồn chồn...
Ngoài ra, có thể ảnh hưởng niêm mạc khứu giác gây mất ngửi; gây biến chứng hô hấp dưới như viêm thanh quản, viêm khí quản, viêm phế quản mạn tính, hen phế quản...; biến chứng mắt: rất hay gặp, nhất là ở trẻ em, vi khuẩn theo ống lệ tỵ từ mũi lên gây viêm bờ mi, viêm kết mạc, viêm tuyến lệ, túi lệ,... 
Nếu viêm mũi biến chứng thành viêm xoang mà không được trị khỏi kịp thời, viêm nhiễm sẽ phát triển lây lan ra bộ phận khác, tổ chức khác của của cơ thể, như gây viêm hốc mắt, viêm dây thần kinh võng mạc, viêm não, viêm màng não, áp-xe não, huyết khối xoang hang hoặc viêm tắc tĩnh mạch xoang... Hơn nữa khi viêm mũi không thở nổi, hô hấp khó khăn sẽ kích hoạt hội chứng ngưng thở khi ngủ, người bệnh phì đại cuốn mũi, khi ngủ thiếu ôxy, nghiêm trọng gây nhồi máu, bộc phát bệnh tim mạch, có những bệnh nhân thậm chí đột tử. 
Khoảng 90% các ca bệnh ung thư mũi là do bệnh viêm mũi lâu ngày trị không khỏi mà tạo thành. Như vậy, từ một viêm nhiễm nhẹ ở mũi có thể sẽ gây ra những biến chứng nặng nề khó lường, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Do đó, không thể xem thường nhức đầu sổ mũi như nhiều người vẫn tưởng. Tốt nhất, khi có biểu hiện viêm nhiễm ở khu vực tai-mũi-họng, nên đến cơ sở có chuyên khoa để thăm khám và điều trị, tránh bỏ lỡ thời gian điều trị tốt nhất.
Cách phòng bệnh hiệu quả
Ngoài việc tránh các tác nhân gây viêm mũi nói chung và viêm mũi dị ứng nếu bạn bị dị ứng như sử dụng máy điều hòa, làm giảm độ ẩm trong nhà, luôn bật quạt hút khi tắm, quạt hút mùi khi nấu ăn; hút bụi thường xuyên, lau chùi nhà cửa, chăn mền giặt sạch sẽ... Ngoài ra, việc rửa mũi hằng ngày bằng dung dịch nước muối sẽ giúp phòng ngừa hiệu quả. Đặc biệt những người bị các triệu chứng xoang mạn tính, viêm xoang cấp, cảm lạnh, các triệu chứng do cảm cúm, rửa mũi sẽ có lợi. Tuy nhiên, không rửa mũi khi có nhiễm khuẩn tai hoặc mũi đang bị tắc gây khó thở.
Khi bạn bị cảm cúm, ban đầu cũng có biểu hiện tại mũi. Làm thế nào để có thể tự phán đoán mình bị viêm mũi hay là bị cảm cúm?
Hắt xì hơi nhiều lần: Những người bị cảm cúm thì mức độ hắt xì hơi không nghiêm trọng như người bị viêm mũi, nếu tần suất hắt xì hơi quá nhiều, rất có thể bạn đã bị viêm mũi.
Nước mũi chảy thường xuyên và liên tục: Những người bị cảm cúm thì triệu chứng ban đầu là nước mũi không nhiều, còn người bị viêm mũi thì có triệu chứng ngược lại, lúc nào cũng chảy nhiều nước mũi.
Mũi bị nghẹt và ngứa: Bị nghẹt mũi lâu ngày, phải thở bằng miệng, chức năng khứu giác bị suy giảm, người mắc bệnh viêm mũi thì xuất hiện triệu chứng mũi ngứa, người bị cảm cúm sẽ không có triệu chứng này.




Theo Sức khỏe & Đời sống

5 cách để có giấc ngủ trưa tốt nhất

Một giấc ngủ trưa ngắn có thể tăng cường sức mạnh não bộ, giúp bạn tỉnh táo hơn và cải thiện trí nhớ.

Giấc ngủ trưa rất quan trọng, đặc biệt trong xã hội hiện đại luôn bận rộn. Biết được điều đó nên các công ty như Google, Ben & Jerry’s, Proctor và Gamble khuyến khích nhân viên nghỉ trưa. Trường ĐH Michigan (Mỹ) là một trong số ít trường đại học trang bị phòng ngủ trưa dành cho sinh viên với giới hạn thời gian ngủ là 30 phút. Theo đó, giấc ngủ trưa đang ngày càng được đánh giá cao. Những biện pháp sau đây sẽ giúp bạn có giấc ngủ trưa hoàn hảo nhất:
Chọn thời gian
Bác sĩ Michael Grandner – Tiến sĩ, giảng viên Tâm thần học tại Trường ĐH Pennsylvania (Mỹ) – nói: “Về cơ bản, thời gian tốt nhất cho một giấc ngủ ngắn là càng gần đến giữa ngày càng tốt. Ngủ trưa trước khi ăn là quá sớm nhưng ngủ quá muộn có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ đêm của bạn. Khoảng thời gian tốt nhất cho giấc ngủ trưa là sau bữa ăn trưa và nên trước 3 giờ chiều”.
Chọn nơi ngả lưng
Một nơi ngủ trưa quá êm ái, thoải mái sẽ tạo tín hiệu giấc ngủ ban đêm cho cơ thể bạn. Vì vậy, bạn rất dễ rơi vào trạng thái ngủ sâu. Lựa chọn tốt hơn hết là bạn nên chọn một nơi thoải mái nhưng vẫn đảm bảo một giấc ngủ chợp mắt ngắn của buổi trưa như ghế sofa chẳng hạn.
5 cách để có giấc ngủ trưa tốt nhất 1
Giữ không gian yên tĩnh
Tiến sĩ Grandner khuyên bạn nên chọn nơi càng yên tĩnh càng tốt. Nếu không có khả năng, bạn cũng có thể bịt tai bằng tai nghe để giảm thiểu tiếng ồn. Ánh sáng cũng rất quan trọng. Bạn nên chọn nơi vừa đủ tối nhưng cũng không nên quá tối để tránh cơ thể rơi vào chế độ giấc ngủ ban đêm. Nhiệt độ nơi ngủ trưa cũng không nên quá nóng hoặc quá lạnh để tránh tình trạng cơ thể cố gắng điều chỉnh nhiệt độ, gây khó khăn trong việc thư giãn, thả lỏng cơ thể.

Nghe có vẻ phản trực giác, nhưng một nghiên cứu của Nhật Bản năm 2003 cho thấy uống một cốc cà phê ngay trước khi đi ngủ có thể góp phần cho một giấc ngủ trưa hoàn hảo. Lý do chính là cà phê không có tác dụng cho đến khoảng 20-30 phút sau khi uống. Vì vậy, bạn sẽ vừa có giấc ngủ trưa với thời lượng hợp lý, vừa thức dậy với tinh thần tỉnh táo bắt đầu buổi làm việc mới.
Nếu không có thời gian cho giấc ngủ, nghỉ ngơi thôi cũng đủ
Nếu bạn đang có quá nhiều công việc cần làm và không có thời gian cho giấc ngủ trưa, bạn cũng có thể nhắm mặt nghỉ ngơi tại chỗ. Chỉ cần thư giãn, nhắm mắt lại, hít thở sâu thì bạn cũng có thể lấy lại tinh thần và sức lực cho những công việc tiếp theo.

Cách phòng tránh viêm phổi ở trẻ nhỏ

Để phòng tránh bệnh viêm phổi cũng như một số bệnh khác, trẻ phải được bú sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời và kéo dài cho đến khi trẻ dược 18 - 24 tháng.

Viêm phổi dù có thể phòng ngừa- Mỗi năm vẫn có hàng triệu trẻ em tử vong
Cứ 20 giây có 1 trẻ em tử vong vì viêm phổi trên thế giới. Việt Nam mỗi năm có đến 2,9 triệu lượt mắc bệnh ở trẻ dưới 5 tuổi và chúng ta cũng là 1 trong 15 quốc gia chiếm 75% gánh nặng viêm phổi toàn cầu... Đây là những thông tin được BS. Trương Hữu Khanh - Trưởng khoa Nhiễm, Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP.HCM cho biết tại buổi tọa đàm “Phòng chống viêm phổi, bảo vệ trẻ em”, do Hội Y học dự phòng tổ chức.
Bệnh nguy hiểm và gây tử vong nhiều nhất
Chị Thái Sông Th. (ngụ Gò Vấp) lo lắng cho biết, mới hai tháng trước con chị (hơn 1 tuổi) phải nhập viện điều trị do bị viêm phổi. Bác sĩ đã chỉ định chích kháng sinh 7 ngày cho bé. Đến giờ, bé lại tiếp tục bị viêm phổi phải nhập viện. Cũng theo chị Th. chị chăm sóc con rất cẩn thận nhưng cứ đến giao mùa là bé lại bị ho, khò khè, khó thở, viêm phổi. Và điều chị lo lắng nhất là con chị bị tái phát trong thời gian ngắn, tiêm nhiều kháng sinh sẽ không tốt cho bé.
Theo BS. Trương Hữu Khanh, nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy viêm phổi là bệnh lây nhiễm nguy hiểm và gây tử vong nhiều hơn bất cứ bệnh nào khác; gây tử vong cao ở trẻ dưới 5 tuổi. Mỗi năm trên thế giới có hơn 1 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết vì viêm phổi; tại Việt Nam, ước tính hằng năm có khoảng 2,9 triệu lượt mắc bệnh viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi. Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, trung bình mỗi ngày có 30 - 40 trẻ bị bệnh đường hô hấp phải nằm viện điều trị nội trú, trong đó có viêm phổi.
Phế cầu - nguyên nhân chính gây ra viêm phổi
BS. Khanh cho biết, phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) là nguyên nhân hàng đầu gây viêm phổi ở trẻ nhỏ. Phế cầu là vi khuẩn thường trú trong hầu họng người lớn và trẻ em. Được lan truyền nhiều nhất qua đường không khí (ho, hắt hơi) và lây lan thông qua việc tiếp xúc với người bị bệnh hoặc người khỏe mạnh mang vi khuẩn phế cầu trong người. Viêm phổi do phế cầu khuẩn cực kỳ nguy hiểm, với tỷ lệ tử vong 10 - 20% và 50% ở nhóm đối tượng nguy cơ cao như trẻ nhỏ/người già.
Cách phòng tránh viêm phổi ở trẻ nhỏ 1
Khi bị viêm phổi phế cầu, trẻ có triệu chứng ho nhiều, ớn lạnh, sốt cao, vã mồ hôi, thở nhanh, đau ngực, đau cơ, mệt mỏi và một cơn ho ra đàm loãng xanh hoặc vàng. Những triệu chứng này dễ gây nhầm lẫn với cảm cúm thông thường nên dễ bị các bậc phụ huynh xem nhẹ, bỏ qua dẫn đến hậu quả khó lường, điều trị muộn.
BS. Trương Hữu Khanh cảnh báo, việc điều trị các bệnh do vi khuẩn phế cầu (S. pneumoniae) ngày càng khó khăn. Bởi loại vi khuẩn này đang gia tăng mức độ đề kháng với các loại kháng sinh. Cụ thể, trong điều trị viêm phổi do phế cầu cho trẻ, bác sĩ phải phối hợp 2 đến 3 loại kháng sinh mạnh ở liều tối đa với chi phí rất tốn kém mới có thể điều trị khỏi bệnh.

Chung tay để trẻ em không còn tử vong do các căn bệnh có thể phòng tránh được!
Cách phòng tránh viêm phổi ở trẻ nhỏ
Để phòng tránh bệnh viêm phổi cũng như một số bệnh khác, trẻ phải được bú sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời và kéo dài cho đến khi trẻ dược 18 - 24 tháng. Trẻ phải được chăm sóc, bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt với trẻ từ 6 tháng đến 2 tuổi.
Người chăm sóc trẻ phải rửa tay thường xuyên, sử dụng nguồn nước sạch và giữ gìn vệ sinh môi trường nhằm bảo vệ trẻ chống lại các mầm bệnh gây viêm phổi, tiêu chảy và các bệnh khác. Khử sạch không khí ô nhiễm trong nhà, đặc biệt là khói từ các bếp lò không an toàn sẽ giúp làm giảm nguy cơ viêm phổi nặng ở trẻ.
Để tránh đưa trẻ nhập viện trong tình trạng nặng (sốt cao, khó thở, thở nhanh, suy hô hấp), phụ huynh cần chú ý theo dõi khi trẻ có những dấu hiệu chuyển nặng bằng cách đếm nhịp thở và phân biệt độ lõm ở lồng ngực để đưa trẻ đến bệnh viện kịp thời.
Việc tiêm chủng vắc-xin sẽ giúp cung cấp sự bảo vệ chống lại sự nhiễm khuẩn gây ra bởi nhiều chủng phế cầu khác nhau.

Bí quyết giữ ấm và khỏe khi trời rét dưới 10 độ C

Hãy chú ý giữ ấm những bộ phận dễ bị lạnh như cổ, tai, mũi, tay, chân, lưng… Nếu đi xe máy cần mặc ấm hơn bình thường.

Không khí lạnh có cường độ mạnh làm các tỉnh phía Bắc tiếp tục giảm thấp, trời rét đậm, xuất hiện rét hại. Vùng núi cao có thể xuống 0 độ C. Nhiệt độ xuống thấp làm trẻ em dễ mắc các bệnh hô hấp, tiêu chảy… Người lớn cũng đối mặt với nhiều bệnh, nhất là các bệnh mãn tính như tim mạch, huyết áp...
Sau đây là một số bí kíp giữ ấm và khỏe khi nhiệt độ xuống dưới 10 độ C.
Những bệnh dễ mắc
Các bác sĩ cho rằng, sau khi thời tiết thay đổi 5 – 7 ngày lượng bệnh nhi nhập viện sẽ tăng mạnh, do ảnh hưởng mạnh của thời tiết lạnh. Chủ yếu bị viêm đường hô hấp trên/ dưới, phổi, tiểu phế quản, tiêu chảy do vi-rút và sốt do vi-rút (với trẻ có bệnh hen suyễn, tim bẩm sinh... sẽ mắc nặng hơn) và dễ chuyển nặng. Đặc biệt trẻ dưới 2 tuổi dễ biến chứng thành viêm tiểu phế quản, khiến trẻ sẽ bị suy hô hấp, tắc nghẽn đường thở gây thiếu oxy... thậm chí có thể tử vong.
Ths.BS Nguyễn Trung Anh - trưởng khoa khám bệnh Bệnh viện Lão khoa T.Ư - các bệnh chủ yếu gia tăng ở người già khi gặp thời tiết lạnh giá thường là huyết áp, tim mạch, xương khớp...
Còn người bình thường khi trời lạnh dưới 10 độ C dễ mắc các bệnh hô hấp, dị ứng thời tiết, liệt dây thần kinh số 7 ngoại biên gây méo miệng, liệt mặt, đột quị, bệnh tim mạch, tê cóng.
Bí quyết giữ ấm và khỏe khi trời rét dưới 10 độ C 1
Cần giữ ấm cho trẻ khi ra ngoài đường. Ảnh minh họa.
Giữ ấm đúng cho trẻ
Việc đề phòng nguy cơ khi thời tiết xuống dưới 10 độ C vô cùng cần thiết. Theo PGS. TS Nguyễn Tiến Dũng (khoa Nhi, BV Bạch Mai), hãy phòng ngừa để giảm bớt các mối nguy khi trời quá lạnh:
Với trẻ chưa đi học

- Giữ ấm tuyệt đối các vùng lòng bàn chân, bàn tay, thóp và ngực. Hạn chế đưa trẻ ra bên ngoài vào sáng sớm và buổi tối.
-Cách bế trẻ đúng là truyền hơi ấm từ cơ thể mẹ sang sẽ giúp bé ấm áp hơn. Hãy ấp bé vào ngực mỗi lần 30 phút và thay đổi liên tục tư thế để da mẹ tiếp xúc với da bé.
- Cho trẻ vui chơi nơi kín gió. Chú ý môi trường thông thoáng đề phòng vi rút gây bệnh hô hấp phát tác.
- Cần kiểm tra nhiệt độ cơ thể của trẻ thường xuyên, nhất là ban đêm nếu cần đắp thêm chăn cho trẻ, nhưng không nên quấn quá chặt.
- Hàng ngày nên mát-xa nhẹ nhàng để giữ cơ thể bé luôn ấm áp.
Với trẻ đi học:
- Cần mặc ấm, đi găng, tất đầy đủ, đội mũ trùm tai để trẻ chống lạnh. Dặn cô giáo và trẻ để ý khi nhiệt độ tăng ấm cần cởi bớt dần kẻo mồ hôi ra dễ bị cảm lạnh.
- Cần tránh cho trẻ em mặc quá nhiều quần áo và chở bằng xe máy đi ngoài đường trời lạnh (vì dễ lạnh quá mà tử vong).
- Phòng trẻ cần tránh bị gió lùa, nhưng cần mở cửa trước khi ngủ để lưu thông không khí. Năng quét dọn sạch sẽ.
Nên cho trẻ chủng ngừa cúm (nhất là trẻ bị bệnh suyễn bị cảm, dễ lên cơn và dễ bị cúm và cúm nặng hơn người khác). Tránh tiếp xúc với những người đang mắc các bệnh hô hấp.
Bí quyết giữ ấm và khỏe khi trời rét dưới 10 độ C 2
Nên ăn nhiều rau quả giàu vitamin để tăng thêm sức đề kháng.
Bí quyết ấm áp và khỏe mạnh
Càng lạnh cơ thể càng tiêu thụ nhiều năng lượng hơn để đối phó với cái lạnh. Cơ thể chịu lạnh tốt hơn nếu được cung cấp thức ăn, nước uống cân bằng. Do đó cần giữ ấm và ăn uống giàu dinh dưỡng đúng cách.
Các chuyên gia khuyên:
Ăn uống:
Nên tăng cường ăn rau xanh, trái cây để nâng cao sức đề kháng. Các gia vị như hành, tỏi, gừng, quế… giúp giữ ấm rất tốt, còn giúp cơ thể giải cảm, ấm bụng, kích thích tiêu hóa. Ăn uống ưu tiên các chất dinh dưỡng, vitamin, khoáng chất để tăng sức đề kháng.
- Trước khi đi ngủ, hoặc sau khi ngủ dậy nên uống sữa ấm, hoặc mật ong để tốt cho đường hô hấp, và giữ cho thân nhiệt luôn ấm áp (nhất là trẻ em, người già).
Vệ sinh cá nhân:
Không phải tắm hàng ngày. Trẻ em chỉ cần lau người, rửa chân tay mặt mũi sạch bằng nước ấm trong phòng kín gió, có thiết bị sưởi và ủ ấm ngay để không bị nhiễm lạnh. Nếu tắm gội cần dùng nước ấm.
Giữ ấm cơ thể:
Hãy chú ý giữ ấm những bộ phận dễ bị lạnh như cổ, tai, mũi, tay, chân, lưng… Nếu đi xe máy cần mặc ấm hơn bình thường. Quần áo mặc từ mỏng đến dày và nên dài qua mông để không bị lạnh bụng. Đi ra ngoài cần mặc áo khoác chất liệu chắn gió, đeo khẩu trang.
- Tránh tiếp xúc đột ngột với lạnh. Khi đi từ trong nhà ra ngoài, hãy mở cửa từ từ để cơ thể thích nghi dần. Tuyệt đối không lao ngay ra ngoài vì dễ “sốc nhiệt”.
- Tập thể thao thường xuyên giúp làm ấm cơ thể, có sức khỏe tốt hơn, phòng chống lại bệnh tật nói chung và 'sốc nhiệt' nói riêng.

Khuyến cáo:
- Tuyệt đối không đốt than củi, than tổ ong, lá cây trong phòng kín để sưởi, vì đã có nhiều trường hợp bị hôn mê, tổn thương não.
- Hạn chế ăn các món lạnh, đồ ăn vừa lấy từ tủ lạnh ra vì dễ làm cơ thể bị lạnh.
- Giữ ấm giường ngủ của trẻ bằng đồ sưởi ấm, miếng dán nóng, túi sưởi (nhưng phải đảm bảo an toàn khi trẻ nằm ngủ).
- Tránh uống rượu trước khi ra ngoài trời lạnh, bởi rượu làm nở các mạch máu cứ tưởng ấm, nhưng thực sự còn làm giảm thân nhiệt bởi nó hút nhiệt từ các cơ quan khác trong cơ thể.
- Tuyệt đối không tắm khuya, hoặc tắm quá lâu, hoặc tắm nơi không kín gió vì dễ bị “sốc nhiệt”, có thể gây tử vong. Cũng không nên tắm và gội cùng lúc tránh nguy hiểm cho sức khỏe.
- Đi ngoài trời về, hoặc tắm xong cần sưởi và làm ấm cơ thể ngay – đó là cách đơn giản, hiệu quả nhất để ngừa hạ thân nhiệt, tê cóng, cảm lạnh.
- Người đã phẫu thuật tim nên tránh tất cả các hoạt động ngoài trời khi nhiệt độ xuống quá thấp, hoặc gió quá lạnh.

5 sai lầm trầm trọng khi dùng tỏi

Để dùng tỏi thật sự hiệu quả trong việc chữa bệnh, bạn cần tránh những sai lầm sau đây.

Từ lâu, người ta đã biết đến tỏi không chỉ là gia vị trong nấu ăn, mà còn như một vị thuốc chữa bệnh. Tuy nhiên, để tỏi thật sự hiệu quả trong việc chữa bệnh, bạn cần tránh những sai lầm sau đây.

Sai lầm 1 – Nấu chín tỏi

Bạn có thể dùng tỏi đã nấu chín như một gia vị cho món ăn của mình. Tuy nhiên, việc nấu chín đã phá hủy thành phần hoạt chất của tỏi – allicin. Allicin là một trong những hợp chất chứa lưu huỳnh trong tỏi được gọi chung là thiosulfinates. Allicin được kích hoạt khi nhai, cắt hoặc nghiền tỏi sống. Nhưng, nó bị vô hiệu hoá bởi nhiệt độ, đó là lý do tại sao khi làm chín tỏi tỏi sẽ làm giảm khả năng chữa bệnh của tỏi.

Để tỏi vẫn giữ được tác dụng chữa bệnh khi dùng tỏi để nấu ăn bạn nên lưu ý như sau: nghiền nát tỏi, đợi ít nhất 10 phút sau mới cho vào nấu ăn. Điều này sẽ tăng thêm sự hình thành của chất allicin, đảm bảo sự tổng hợp tối đa của allicin và cũng làm cho nó chịu nhiệt tốt hơn. Sau đó đun lửa nhỏ trong thời gian ngắn khoảng 15 phút.

5 sai lầm trầm trọng khi dùng tỏi 1
Ảnh minh họa

Sai lầm 2 – Dùng viên thuốc tỏi thay vì dung tỏi tươi

Để tránh mùi tỏi, một số người đã uống viên thuốc tỏi (như viên dầu tỏi) thay thế cho dùng tỏi tự nhiên. Đây là điều thường thấy, nhưng cách dễ dàng này không thực sự hiệu quả. Như đã nói, để kích hoạt chất chữa bệnh của tỏi, bạn cần phải ăn thô, nghiền tỏi. Không có loại thuốc viên, bột hoặc dạng tỏi khô nào có thể sánh được với tiềm năng chữa bệnh của tỏi trong trạng thái tự nhiên của nó.

Các khí phốt pho có mùi biến mất khi tỏi được sấy khô, chế biến hoặc nấu chín. Tỏi được sấy khô vẫn giữ được đặc tính chống oxy hóa và có thể giúp chống lại các gốc tự do – nhưng nó không có tác dụng nhiều như tỏi tươi. Nếu bạn nhai tỏi sống, thì tỏi đó được chứng minh rằng nó có tác dụng như dùng penicillin trong nhiều trường hợp.

Sai lầm 3 – Sử dụng tỏi để quá lâu

Hãy đảm bảo rằng tỏi mà bạn dùng với mục đích chữa bệnh vẫn còn tươi, chứ không phải là loại tỏi đã để quá lâu. Các hoạt chất trong tỏi tươi mạnh hơn, hiệu quả hơn rất nhiều so với tỏi đã để lâu. Tỏi hữu cơ là một lựa chọn tốt hơn cho sức khỏe.
Sai lầm 4 – Dùng quá ít tỏi

Nếu bạn đang mong muốn dùng tỏi để chống nhiễm trùng theo cách tự nhiên, thì bạn cần ăn khá nhiều tỏi. Thỉnh thoảng mới ăn một tép tỏi nhỏ sẽ không đem lại hiệu quả mong đợi. Một liều điều trị nên là 2 – 3 tép tỏi trung bình mỗi ngày. Theo nghiên cứu, những người khỏi nhiễm trùng đã nhai 2 – 3 tép tỏi/ hai lần/ngày.

5 sai lầm trầm trọng khi dùng tỏi 2
Ảnh minh họa

Sai lầm 5 – Ăn tỏi nhưng quên bổ sung các thức ăn cho hệ thực vật đường ruột

Vì tỏi đóng vai trò như một kháng sinh, nên nếu ăn số lượng lớn, có thể sẽ ảnh hưởng đến hệ thực vật đường ruột và làm tiêu hao các vi khuẩn có lợi. Cũng như các kháng sinh khác, bạn cần cung cấp các chế phẩm sinh học cho đường ruột để đường ruột trở lại cân bằng khi bạn ăn nhiều tỏi tươi. Cách tốt nhất để làm điều này là bạn cần ăn các thực phẩm lên men chứa probiotics như sữa chua, miso, rau quả lên men.

Sai lầm 5 – Không có chế độ ăn uống lành mạnh

Bạn không thể mong đợi tỏi như một thần dược. Bên cạnh việc dùng tỏi chữa bệnh, bạn cần có lối sống lành mạnh, chế độ ăn uống cân bằng để thúc đẩy quá trình chữa bệnh.

Một chế độ ăn giàu đường và thức ăn chế biến sẵn sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ miễn dịch của bạn. Tỏi sẽ phát huy hết tác dụng của mình nếu cơ thể bạn được cung cấp đầy đủ các dưỡng chất khác từ rau xanh, trái cây, các thực phẩm giàu probiotic...

(Nguồn: Health)
Theo Khánh Huy / Trí Thức Trẻ

Thận trọng với bệnh Viêm mũi dị ứng trong mùa đông


Viêm mũi dị ứng có thể xuất hiện ở mọi đối tượng và thường gặp nhất vào mùa đông, khi tiết tiết lạnh kèm theo hanh khô. Nhưng nếu biết cách, bạn cũng có thể phòng bệnh hiệu quả.
Viêm mũi dị ứng thường gặp vào mùa lạnh
Mũi là "cửa ngõ" của cơ thể và là bộ phận sớm phải tiếp xúc với dòng không khí lạnh. Mũi có nhiệm vụ điều tiết, làm ấm và tăng độ ẩm cho không khí khi vào cơ thể, vì vậy, nếu thường xuyên tiếp xúc với không khí lạnh, niêm mạc mũi sẽ có những phản xạ quá mẫn như viêm mũi xúc tiết, viêm mũi dị ứng...
Khi bị viêm, niêm mạc mũi này trở nên nhạy cảm, vì vậy rất dễ bị kích ứng bởi các yếu tố dễ gây dị ứng như: bụi, khói, phấn hoa, hóa chất, khói thuốc, lông thú, nấm mốc, thực phẩm có tính kích thích như hạt tiêu, ớt, không khí lạnh…
Những triệu chứng thường gặp của viêm mũi dị ứng bao gồm: hắt hơi, chảy nước mũi trong hoặc nước mũi đục, vàng khi đang ở tình trạng viêm cấp, ngứa mũi, đau nhức vùng mũi, vùng xoang, nghẹt mũi một bên hoặc cả hai bên, người mệt mỏi, có khi nhức đầu, ngứa mắt, chảy nước mắt... Những người bị viêm mũi dị ứng ở thể nặng có thể lên những cơn khó thở, khò khè như bệnh hen.








Ảnh minh họa
Những người dễ bị viêm mũi dị ứn
Những người thường bị viêm mũi dị ứng có thể gặp các thể bệnh viêm mũi dị ứng theo mùa (do dị ứng với chất gây dị ứng thường gặp là bụi nấm mốc, phấn hoa, không khí lạnh…) hoặc viêm mũi dị ứng do nghề nghiệp (thường là những người làm các nghề phải tiếp xúc với các yếu tố như: bụi gỗ, hóa chất, hơi xăng dầu, phân bón, thuốc trừ sâu, hơi nhựa, cao su…).
Một số người có thể bị viêm mũi dị ứng do cơ địa nhạy cảm, dễ phản ứng với các yếu tố hoặc các chất dễ gây dị ứng như bụi nhà, lông chó mèo, bụi vải, quần áo, chăn màn, đồ chơi, côn trùng như gián, dĩn, mò, bọ chét, phấn hoa… Trong trường hợp này, nếu không tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh thì các triệu chứng viêm mũi dị ứng cũng tự biến mất.
Viêm mũi dị ứng có thể chuyển thành hen phế quản
Mặc dù viêm mũi dị ứng là bệnh do sự nhạy cảm của niêm mạc mũi gây ra nhưng bệnh cũng cần được điều trị dứt điểm kịp thời, đề phòng nguy cơ bị chuyển sang thể hen. Đặc biệt, những người có yếu tố di truyền liên quan đến bệnh hoặc thường xuyên phải tiếp xúc với môi trường khói bụi... thì càng cần giữ sức khỏe để phòng bệnh.
Viêm mũi dị ứng tuy không gây nguy hiểm tới tính mạng nhưng nó có thể gây biến chứng dẫn đến viêm xoang và các chứng nhiễm khuẩn đường hô hấp trên. Viêm mũi dị ứng cũng có thể gây khó khăn cho việc kiểm soát hen suyễn, gây nghẹt mũi, làm cho bệnh nhân mất ngủ và mất ngủ lại dễ bị lên cơn hen. Khi điều trị tốt, viêm mũi dị ứng có thể làm giảm cơn suyễn.









Ảnh minh họa
Phòng ngừa và điều trị viêm mũi dị ứng hiệu quả
Nếu có dấu hiệu viêm mũi dị ứng, bạn cần đến các cơ sở y tế để được thăm khám và chỉ định dùng thuốc hiệu quả nhất, tránh nguy cơ bệnh trở thành mãn tính và khó điều trị. Bệnh nhân vừa bị viêm mũi dị ứng vừa bị hen suyễn, phải chú ý rằng các thuốc kháng histamin mà dùng kéo dài có thể làm tình trạng hen suyễn nặng thêm. Người bị nghẹt mũi nhiều nên dùng thuốc giảm sung huyết mũi vì rất hiệu quả, nhưng chỉ nên dùng vài ba ngày, người bị tăng huyết áp phải dùng thận trọng.
Bên cạnh đó, việc quan trọng hơn bạn cần làm là phòng ngừa để không mắc bệnh hoặc bệnh không tái phát. Tốt nhất, bạn nên hạn chế tối đa việc tiếp xúc với bụi, khói thuốc, hơi than, lông thú vật, mùi sơn, hoá chất tẩy rửa, mùi nước hoa mạnh, thức ăn có mùi đặc biệt; Thường xuyên làm vệ sinh nhà cửa, giặt chăn màn, gối; Không nuôi chó mèo hoặc những vật có lông khác trong nhà...
Nếu bị dị ứng phấn hoa, khi đi ra ngoài, nên đeo kính râm và tránh dụi mắt. Bạn cũng nên làm ấm vùng mũi mỗi khi tỉnh dậy vào buổi sáng bằng cách dùng hai bàn tay chụp lại hai bên vùng cánh mũi và miệng, tay xoa xoa tập thở ra hít vào, thực hiện như vậy chừng vài phút. Nhỏ mũi bằng nước muối sinh lý hàng ngày để làm sạch niêm mạc mũi, hạn chế viêm.

Ngoài ra, để bảo vệ sức khỏe nói chung của trẻ nhỏ, cần nắm những quy tắc đơn giản: lưu ý hướng dẫn trẻ biết giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ, tắm hàng ngày bằng sữa tắm diệt khuẩn, rửa tay đúng cách bằng nước rửa tay diệt khuẩn. Cả nhà hãy cùng thực hiện các hành động cơ bản và thiết yếu hàng ngày để bảo vệ sức khỏe cả nhà một cách toàn diện nhất.

Theo Saga / Trí Thức Trẻ

Tăng chiều cao cho trẻ: Những cách đơn giản nhất

Thực tế, sự phát triển của của xương chính là yếu tố quyết định chiều cao và có nhiều yếu tố tác động đến sự phát triển của xương ngoài yếu tố di truyền.

Để có thể tăng tối đa chiều cao, chúng ta cần hiểu về cấu tạo và sự phát triển của xương cũng như những yếu tố giúp xương chắc khỏe và phát triển tốt nhất.
1. Cấu tạo và phát triển của xương
Trong quá trình phát triển của xương trải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn trong bào thai; từ lúc chào đời đến lúc dậy thì và từ tuổi dậy thì trở đi. Trong đó, giai đoạn 2 từ lúc chào đời đến lúc dậy thì, hệ xương phát triển mạnh hơn hệ cơ; còn giai đoạn 3 từ tuổi dậy thì về sau hệ xương phát triển chậm hơn hệ cơ.
Trước tuổi dậy thì, xương phát triển chiều dài và sau tuổi dậy thì, xương phát triển độ dày. Tuổi tiền dậy thì của trẻ em Việt Nam là 9-11 tuổi đối với nữ và 12-16 tuổi đối với nam. Lứa tuổi này chiều cao mỗi năm tăng khoảng 8-10 cm nếu được nuôi dưỡng tốt. Khi đến tuổi dậy thì (12-13 đối với nữ và 16-18 đối với nam) thì sức lớn chậm lại, mỗi năm tăng khoảng 2cm.
Về mặt cấu tạo, xương chủ yếu được tạo thành từ các khoáng chất canxi và tế bào xương. Mô xương được tạo thành bởi các tế bào, các sợi và chất căn bản. Chất căn bản của xương gồm: muối khoáng (muối muối Canxi, Magie, Mangan, Silic, Boron, Kẽm, Đồng...) và khoáng (chủ yếu là collagen kết hợp protein). Các thành phần bên ngoài bị canxi hóa giúp cho chất căn bản trở nên cứng rắn, phù hợp với chức năng chống đỡ và bảo vệ của xương.
Các xương được gắn nối với nhau bởi hệ thống dây chằng. Tại các đầu xương có 1 lớp sụn giống như cao su có tính đàn hồi chêm giữa các đầu xương trong các khớp để tránh ma sát và giảm chấn động mỗi khi các đầu xương chuyển động và va chạm vào nhau.
Xương luôn được tái tạo trong suốt cuộc đời, các tế bào xương mới liên tục được tạo ra đế thay thế cho các tế bào đã già cỗi.
Tăng chiều cao cho trẻ: Những cách đơn giản nhất 1
2. Các yếu tố giúp xương phát triển tốt nhất
Xương có hai đặc tính cơ bản là mềm dẻo và bền chắc để có thể chống lại các lực cơ học tác động vào cơ thể và nâng đỡ cơ thể vững chãi. Sở dĩ xương có được hai tính chất trên là nhờ vào thành phần hóa học. Xương được cấu tạo từ 2 chất chính: một loại chất hữu cơ gọi là cốt giao (chủ yếu là Collagen) và một số chất vô cơ là các muối canxi. Chất khoáng làm cho xương bền chắc, cốt giao đảm bảo tính mềm dẻo.
Một số yếu tố giúp xương phát triển chắc khỏe, dẻo dai và tăng tối đa về chiều cao của cơ thể bao gồm:
- Giữ trọng lượng cơ thể vừa chuẩn: Trọng lượng sẽ tạo sức nặng lên khớp xương, như đầu gối, hông và lưng. Vì vậy, nên giữ trọng lượng cơ thể khỏe mạnh để hạn chế áp lực lên xương.

- Tập thể dục: Vận động nhiều rất có lợi cho xương khớp vì nó giúp các khớp xương linh hoạt hơn.
- Giữ đúng tư thế: Tư thế phù hợp khi đứng, ngồi, nằm, mang vác... sẽ giúp bảo vệ các khớp xương từ cổ đến đầu gối cũng như bảo vệ khớp hông và cơ lưng.
Tăng chiều cao cho trẻ: Những cách đơn giản nhất 2
- Bổ sung dinh dưỡng phù hợp: Bổ sung canxi là vô cùng quan trọng mà bất cứ ai cũng cần biết để giữ cho xương chắc khỏe và phát triển tốt, đặc biệt trong giai đoạn xương đang phát triển. Bạn có thể bổ sung canxi thông qua chế độ ăn uống hàng ngày từ các thực phẩm như sữa, thịt cá, và thực phẩm chức năng, .... Nên bổ sung Canxi dạng nano giúp cơ thể hấp thu tốt nhất.
Song song với Canxi, cơ thể cần thêm vitamin D3 và MK7 giúp hấp thu và vận chuyển Canxi tối đa từ ruột vào tận xương, đồng thời MK7 giúp lấy Canxi ở chỗ thừa như thành mạch máu, mô mềm,… để đưa đến những chỗ thiếu (là xương). Ngoài ra, MK7 kích thích xương sản xuất nhiều Collagen giúp xương trở nên dẻo dai và đàn hồi. MK7 là một mắt xích rất quan trong giúp xương phát triển nhanh, chắc khỏe và dẻo dai.
Bên cạnh đó, bạn cần nắm được thành phần tối cần thiết cho sự phát triển của xương khớp là chondroitin. Đây là thành phần tự nhiên của sụn, lót đệm cho các khớp xương và có tác dụng ngăn cản những enzyme phá hoại các mô sụn hình chữ thập. Nó có thể phát triển các chất bôi trơn và sự đàn hồi của sụn khớp xương giúp các sụn khỏe mạnh hơn. Đối với tuổi đang lớn, chondroitin giúp phát triển lớp sụn tiếp hợp, nhờ đó, cùng với Canxi sẽ giúp xương dài ra nhanh chóng. Bởi vậy, trong quá trình phát triển xương, ngoài việc lưu ý bổ sung canxi và các khoáng chất khác, chúng ta cần lưu ý bổ sung cả chondroitin để phát phát triển ở mức tốt nhất, khỏe mạnh nhất.
Để có chiều cao mong muốn, xương cần chắc khỏe và dài tối đa. Vì vậy, bổ sung đủ các dưỡng chất cho xương là rất cần thiết. Viên uống Vipteen với các khoáng chất cần cho xương như Canxi nano, Kẽm nano, Magie, Mangan, đồng, Bo, Silic… cùng các “trợ thủ” đẩy nhanh quá trình tạo xương và sụn khớp là Vitamin D, MK7 (Vitamin K2), chondroitin, acid folic và DHA ... có thể giúp lứa tuổi “tiền dậy thì và dậy thì” cao hết tiềm năng.
Gọi (04).39.978.898 hoặc 1900.1259 (Giờ hành chính) hoặc gửi câu hỏi tới hòm thư: bstuvan@caolonthongminh.vn để được Tư Vấn - Giải Đáp các vấn đề về chiều cao (Miễn Phí). Xem thêm tại caolonthongminh.vn
Theo Saga / Trí Thức Trẻ

5 dấu hiệu chị em bị thiếu testosterone rõ nét nhất

Thiếu testosterone có thể ảnh hưởng đến ham muốn tình dục, năng lượng và tâm trạng của chị em.

Bạn có thể nghĩ rằng testosterone là loại hormone chỉ quan trọng đối với nam giới? Sự thực không phải vậy, với phụ nữ, nó cũng vô cùng quan trọng. Testosterone là hormone quan trọng đối với sức khỏe tình dục của nữ giới không kém gì với nam giới. Các hormone này được tiết ra từ buồng trứng và tuyến thượng thận, tăng dần ở tuổi dậy thì, sau đó giảm dần theo tuổi tác. Mức testosterone thấp có thể ảnh hưởng đến ham muốn tình dục, năng lượng và tâm trạng của chị em. Vì vậy, chị em cần cảnh giác và sớm nhận biết được các triệu chứng suy giảm testosterone nếu không may gặp phải.

5 dấu hiệu chị em bị thiếu testosterone rõ nét nhất 1
Mức testosterone thấp có thể ảnh hưởng đến ham muốn tình dục, năng lượng và tâm trạng của chị em. Ảnh minh họa

5 dấu hiệu chị em bị thiếu testosterone rõ nét nhất bao gồm:


1. Giảm ham muốn tình dục

Vì nó là một hormone tình dục nên sẽ không có gì ngạc nhiên khi một trong những dấu hiệu testosterone thấp là ảnh hưởng đến ham muốn tình dục. Nói chung, phụ nữ có ham muốn tình dục giảm đi khi có tuổi nhưng với phụ nữ trẻ, tình trạng này báo hiệu testosterone thấp hoặc bạn đang bị mất cân bằng nội tiết. Ngoài ra, chị em cũng có thể thấy xuất hiện những biểu hiện khác kèm theo như khô âm đạo, đau khi "quan hệ", khó đạt cực khoái...

2. Kinh nguyệt không đều

Hormone testosterone cũng có thể gây ra những vấn đề liên quan đến kinh nguyệt của bạn vì nó có ảnh hưởng tới chức năng của buồng trứng. Trong trường hợp xấu nhất, nó có thể làm cho chị em bị mất kinh. Các triệu chứng liên quan đến kinh nguyệt do testosterone thấp mà chị em thường gặp là: cảm giác nóng trong cơ thể, tâm trạng thay đổi liên tục...

3. Mệt mỏi

Nếu bạn đã ngủ đủ giấc, ăn uống lành mạnh mà vẫn cảm thấy mệt mỏi khi thức dậy, uể oải và thiếu năng lượng trong cả ngày thì rất có thể đó là do bạn đang bị rối loạn hormone với lượng testosterone suy giảm. Testosterone thấp cũng có thể là lý do bạn không có giấc ngủ ngon, tâm trạng luôn bất ổn, bởi vậy mà cơ thể không thể lấy lại được năng lượng sau một ngày bận rộn và tình trạng mệt mỏi sẽ càng kéo dài.

5 dấu hiệu chị em bị thiếu testosterone rõ nét nhất 2
Testosterone thấp ảnh hưởng đến ham muốn tình dục. Ảnh minh họa

4. Tăng cân

Tâm trạng bất ổn do lượng testosterone thấp kéo theo những hậu quả kèm theo là ăn uống linh tinh, thậm chí thèm ăn liên tục và dẫn tới tăng cân. Mức testosterone thấp cũng có thể góp phần làm cho bạn không thể xây dựng cơ bắp hoặc thậm chí mất cơ và tăng chất béo trong cơ thể. Đặc biệt, nếu điều này xảy ra xung quanh vùng bụng của bạn, bạn cần sớm trao đổi với các bác sĩ càng sớm càng tốt.

5. Rụng tóc

Một trong những triệu chứng rõ ràng của testosterone thấp là rụng tóc. Cũng như là các hormone tình dục khác, testosterone hỗ trợ sự phát triển tóc khỏe mạnh. Vì vậy, nếu gặp dấu hiệu này, bạn cần đi khám hoặc tham khảo tư vấn của bác sĩ để được điều trị kịp thời, tránh để lâu dài có thể dẫn đến hói đầu.

Đừng tự ý cho rằng nếu bạn đang gặp phải một hoặc hai trong số những triệu chứng này thì có nghĩa là bạn có một mức độ testosterone thấp. Hãy đi khám bác sĩ để được giải thích cặn kẽ về nguyên nhân của các triệu chứng mà bạn gặp phải. Điều này sẽ rất có ích cho việc chữa trị của bạn.

(Nguồn: Allwwomen)
Theo T.H / Trí Thức Trẻ